Kiến thức cơ bản

Bệnh tiểu đường là gì?

Bài viết dưới đây sẽ khái quát những điểm cơ bản như “bệnh tiểu đường là gì?”, các triệu chứng, phân loại, nguyên nhân, cách điều trị, chi phí điều trị bệnh tiểu đường. Thông qua bài viết này, mọi người sẽ có kiến thức cơ bản về bệnh tiểu đường!

1. Bệnh tiểu đường là bệnh như thế nào?

Tìm hiểu bệnh tiểu đường là gì?

Chúng ta ăn uống hàng ngày. Lượng carbohydrates từ bữa ăn được hấp thu vào đường ruột như glucose và hòa tan trong máu. Khi đó, một hormone gọi là insulin được tiết ra, nhờ insulin tiết ra, glucose được đưa vào các tế bào và trở thành nguồn năng lượng của cơ thể.

Nếu sự hoạt động của insulin không hiệu quả và nếu glucose tăng lên đến mức mà việc xử lý của insulin không thể đáp ứng được, thì sẽ có một lượng lớn glucose không được chuyển hóa thành nguồn năng lượng của cơ thể và bị dư thừa trong máu. “Tình trạng lượng glucose trong máu (lượng đường trong máu) vượt quá tỷ lệ nhất định” được gọi là “bệnh tiểu đường”.

Do bệnh tiểu đường có một số loại khác nhau nên không thể gộp chung vào một loại, nhưng nhìn chung các triệu chứng cơ năng điển hình của bệnh tiểu đường cụ thể như sau:

– Đa niệu (lượng nước tiểu nhiều)

– Khô miệng, uống nhiều (hay khát nước và uống nhiều nước)

Tiểu đường là gì 1
Người bệnh khát nước và uống nước thường xuyên

– Cân nặng giảm

Tiểu đường là gì 2
Người tiểu đường bị giảm cân đột ngột

– Trở nên dễ mệt mỏi

Bệnh tiểu đường có gì đáng sợ?

Khi bị tiểu đường (tình trạng lượng đường trong máu vượt quá tỷ lệ nhất định), người bệnh sẽ gặp khó khăn gì?

Nếu lượng đường trong máu tăng lên, máu trở nên đặc hơn, tạo áp lực lớn lên mạch máu. Hiện tượng này lâu dài sẽ gây ra nhiều biến chứng và đây chính là điểm đáng sợ của bệnh tiểu đường. Đặc biệt phần lớn các biến chứng của bệnh tiểu đường đều liên quan đến mao mạch và tùy từng trường hợp, bệnh nhân có thể bị mất thị giác, thậm chí các chi của chân tay có thể bị hoại tử.

>> Để nhận biết bạn có bị tiểu đường không, hãy đọc ngay bài viết: Triệu chứng bệnh tiểu đường

Ba loại bệnh tiểu đường

Như đã đề cập trước đó, bệnh tiểu đường là “Trạng thái lượng glucose trong máu (lượng đường trong máu) vượt quá tỷ lệ nhất định”, nhưng có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
Tùy thuộc vào từng nguyên nhân, bệnh tiểu đường có thể được chia thành 3 loại sau đây.

– Bệnh tiểu đường tuýp 1

Tiểu đường tuýp 1 là bệnh tiểu đường do các tế bào β của tuyến tụy tiết ra insulin bị phá hủy. Đây là bệnh có tỷ lệ khởi phát cao ở đối tượng trẻ em và vị thành niên, có đặc trưng là thường đột nhiên phát triển và tiến triển nhanh chóng. Ngoài ra, các triệu chứng ban đầu của bệnh rất giống với triệu chứng bệnh cảm lạnh, nhưng sau đó xuất hiện thêm các triệu chứng như khát nước, đa niệu, đột nhiên giảm cân.

Tiểu đường là gì 4
Tiểu đường tuýp 1 thường gặp ở trẻ em và những người ở độ tuổi còn trẻ

Về phương pháp điều trị, khi tế bào β của tuyến tụy phá hủy, insulin không thể được tiết ra, vì vậy nếu bệnh nhân không thường xuyên cung cấp insulin từ bên ngoài vào cơ thể thì bệnh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Do đó biện pháp tiêm insulin là rất cần thiết.

– Bệnh tiểu đường tuýp 2

Tiểu đường tuýp 2 (type 2) là một loại bệnh tiểu đường khởi phát ở những người có yếu tố di truyền về bệnh tiểu đường và có “vấn đề lối sống” như béo phì, phàm ăn tục uống, thiếu vận động, căng thẳng. Bệnh tiểu đường tuýp 2 được coi là một trong “7 bệnh lối sống lớn”.

Tiểu đường là gì 3
Bị tiểu đường tuýp 2 do không có chế độ ăn uống và tập luyện hợp lý

Bệnh tiểu đường tuýp 2 khởi phát chủ yếu ở những người sau độ tuổi trung niên. Đặc trưng của loại bệnh tiểu đường này là gần như không có triệu chứng cơ năng, thường khởi phát mà bệnh nhân không biết. Không ít các trường hợp bệnh nhân ngạc nhiên khi lần đầu tiên phát hiện bệnh trong kỳ khám sức khỏe tại nơi làm việc và nơi sinh sống mặc dù nghĩ rằng bản thân khỏe mạnh.

Tuy nhiên, không thể không quan tâm đến bệnh tiểu đường vì cho rằng bệnh không gây đau đớn cho cơ thể. Bởi nếu để bệnh tiến triển, có thể gây ra các biến chứng như mù lòa, hoại tử bàn chân.

Tất nhiên, không thể khẳng định một cách chắc chắn về các biến chứng bởi bệnh sẽ tiến triển khác nhau tùy thuộc vào tình trạng bệnh và quá trình, nhưng ở giai đoạn đầu, bệnh nhân có thể điều chỉnh lượng đường trong máu bằng cách cải thiện lối sống như chế độ ăn uống và vận động. Tuy nhiên, theo thời gian, việc kiểm soát lượng đường trong máu chỉ bằng cách cải thiện lối sống trở nên khó khăn hơn và trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể chuyển sang điều trị bằng thuốc như thuốc uống hoặc tiêm insulin.

Ngoài ra, có thể nói bệnh tiểu đường là một căn bệnh khó chữa khỏi. Ngay cả khi chỉ số đường huyết đã ổn định nhưng nếu bệnh nhân ngừng điều trị, chỉ số này sẽ lại tăng lên rất nhanh. Vì vậy, trường hợp bệnh nhân phát hiện bị bệnh tiểu đường type 2, hãy đến tư vấn tại một cơ sở y tế chuyên khoa để được duy trì điều trị và tiến hành xét nghiệm thích hợp.

– Bệnh tiểu đường thai kỳ

Bệnh tiểu đường thai kỳ là một tình trạng bất thường trong trao đổi chất đường do ảnh hưởng của việc mang thai và được phát hiện hoặc khởi phát lần đầu khi mang thai. Đây là một bệnh tiêu biểu ở phụ nữ mang thai, khi phụ nữ mang thai, hormone được tạo ra bởi nhau thai ức chế chức năng insulin, do đó gây ra sự tăng lượng đường trong máu.

Tiểu đường là gì 5
Người mẹ bị tiểu đường thai kỳ nên đặc biệt chú ý để không ảnh hưởng tới sức khỏe của thai nhi.

Tất nhiên, không phải tất cả phụ nữ mang thai đều bị tiểu đường, nhưng trường hợp thai phụ béo phì, mang thai khi lớn tuổi, tiền sử gia đình thai phụ có người bị tiểu đường thường sẽ có xu hướng dễ bị tiểu đường thai kỳ hơn.

cta kiến thức tiểu đườngĐể hiểu rõ về các loại bệnh tiểu đường, bạn hãy đọc thêm tại bài viết các loại bệnh tiểu đường

2. Biến chứng của bệnh tiểu đường là gì?

Điều đáng lo ngại trong bệnh tiểu đường là những biến chứng khác nhau xuất hiện do lượng đường trong máu tăng lên tạo áp lực lớn lên mạch máu. Có lẽ mọi người thường nghe những câu chuyện nói rằng “Nếu bị bệnh tiểu đường, mắt sẽ trở nên không thể nhìn thấy, thận trở nên tồi tệ hơn, hoặc đầu chân tay bị hoại tử.” Thực tế, đây được coi là những triệu chứng tiêu biểu gây ra bởi 3 biến chứng chính của bệnh tiểu đường.

Phần này sẽ giới thiệu khái quát về 3 biến chứng tiểu đường chính:

Bệnh võng mạc tiểu đường

Cơ chế con người nhìn thấy mọi thứ bằng mắt của mình có thể được mô phỏng như cấu trúc của một bộ phim. “Việc nhìn thấy mọi thứ” có thể nói rằng đó là quá trình ánh sáng đi vào từ tròng mắt được khúc xạ bởi giác mạc hoặc thủy tinh thể (thấu kính của máy chiếu), liên kết các hình ảnh được chiếu lên võng mạc (màn hình) và não ghi nhận hình ảnh đó. Việc bạn đọc ghi nhận dòng chữ được viết ở đây ngay lúc này cũng chính là từ việc cảm nhận ánh sáng trên võng mạc thông qua giác mạc và thủy tinh thể.

Tiểu đường là gì 6
Người bị tiểu đường có thể mắc nhiều biến chứng về mắt

Võng mạc là một màng mỏng với vô số dây thần kinh ở đáy mắt và mao mạch căng xung quanh. “Bệnh võng mạc tiểu đường” là một biến chứng dẫn đến giảm thị lực và mù lòa do áp lực lên mạch máu gây ra bởi bệnh tiểu đường, máu và oxy không đủ để truyền tới mao mạch của võng mạc.

>> Cảnh báo nguy cơ: Mất thị giác, bệnh võng mạc do tiểu đường

Bệnh thận do tiểu đường

Vai trò quan trọng của thận trong cơ thể là lọc chất thải và các chất không cần thiết trong máu rồi thải chúng ra khỏi cơ thể dưới dạng nước tiểu. Có thể nói máu của cơ thể chúng ta được duy trì ở trạng thái ổn định chính là nhờ chức năng lọc của thận.

Tuy nhiên, khi lượng đường trong máu tăng lên do bệnh tiểu đường, bộ lọc thận bị tắc nghẽn, không thể xử lý được chất thải và các chất không cần thiết, khiến cho việc giữ ổn định tình trạng của máu trở nên khó khăn. “Bệnh thận do tiểu đường” là rối loạn chức năng thận do bệnh tiểu đường gây ra.

Trong trường hợp xấu nhất, có thể dẫn đến các triệu chứng đe dọa tính mạng nghiêm trọng như tăng ure máu, suy thận và có thể cần phải chạy thận nhân tạo bằng thiết bị y tế.

>> Nghiên cứu ngay bài viết Bệnh thận do tiểu đường để phòng tránh biến chứng cực kỳ nguy hiểm này

Bệnh thần kinh tiểu đường

“Bệnh thần kinh tiểu đường” là một trong ba biến chứng lớn của bệnh tiểu đường cùng với bệnh võng mạc tiểu đường và bệnh thận do tiểu đường, nhưng có vẻ như phần lớn mọi người vẫn chưa hiểu rõ tại sao bệnh tiểu đường gây tổn thương thần kinh. Có rất nhiều giả thuyết khác nhau về nguyên nhân của biến chứng thần kinh tiểu đường như “Bởi vì nếu bệnh tiểu đường càng tiến triển, các tế bào thần kinh sẽ tích lũy nhiều vật chất gây tổn thương”, “Tiểu đường khiến việc lưu thông máu trong mao mạch trở nên kém đi, dẫn đến thiếu oxy và chất dinh dưỡng cần thiết cho tế bào thần kinh”, nhưng có vẻ như để nói rằng trong các giả thuyết trên, giả thuyết nào đúng thì chưa có kết luận cuối cùng.

Người ta nói rằng các triệu chứng ban đầu của bệnh thần kinh tiểu đường thường là bị tê và đau chủ yếu ở các ngón chân và bàn chân. Về cảm giác, các triệu chứng thường được biểu hiện ở trạng thái “châm chích”, “đau rát”,…, khi các triệu chứng tiến triển, đau và tê sẽ dần dần xuất hiện ở các ngón tay. Hơn nữa, khi thần kinh tiếp tục bị tổn thương, cảm giác của tứ chi trở nên chậm hơn và bệnh nhân thường bị thương trên tay chân mà không biết.

Tiểu đường là gì 7
Tiểu đường gây đau, nhức chân.

Điều phải chú ý đặc biệt trong bệnh thần kinh tiểu đường là khi bệnh nhân không chú ý đến một vết trầy xước rất nhỏ do đi giày bị chật hoặc bị cứa, vết thương có thể trở nên tồi tệ hơn như bị nhiễm khuẩn và thời điểm bệnh nhân đi khám tại bệnh viện thì tay và chân đã bị hư hỏng nặng không thể sử dụng được nữa, cách chữa trị duy nhất là cắt bỏ chân tay. Bệnh nhân tiểu đường nên xác nhận trực quan các chi của chân tay trong khi tắm.

>> Xem thêm bài viết chi tiết về biến chứng Bệnh thần kinh tiểu đường

3. Phương pháp điều trị bệnh tiểu đường

Có ba phương pháp điều trị bệnh tiểu đường tiêu biểu. Liệu pháp ăn uống, liệu pháp vận động, điều trị bằng thuốc. Cả ba đều là phương pháp điều trị nhằm kiểm soát mức đường trong máu và giảm áp lực lên các mạch máu, có thể áp dụng tùy theo loại và triệu chứng của bệnh tiểu đường.

Hãy cùng tìm hiểu cụ thể về ba phương pháp điều trị này.

Ăn uống

Liệu pháp ăn uống là liệu pháp nhằm điều chỉnh lượng đường trong máu bằng thói quen ăn uống lành mạnh có cân bằng. Các điểm chung cần lưu ý được đưa ra là “ăn từ từ và nhai kỹ”, “ăn uống lành mạnh, điều độ vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối”, “không ăn vào đêm muộn hoặc trước khi đi ngủ”, “không ăn quá no, chỉ nên ăn vừa đủ no”, “Cố gắng cân bằng dinh dưỡng với nhận thức đầy đủ về khoáng chất và vitamin, đặc biệt là ba chất dinh dưỡng chính carbohydrate, protein và chất béo”.

Tuy nhiên, vì sự thèm ăn là một trong 3 ham muốn tuyệt vời của con người, ngay cả khi nhận thức điều đó trong đầu, đôi khi bệnh nhân vẫn bị rối loạn trong thói quen ăn uống như “muốn ăn đồ ăn có dầu mỡ!”, “muốn ăn đến no căng bụng”. Để giải quyết vấn đề này, đôi khi có thể thử tạo “ngày đặc biệt để ăn đồ bản thân thích”.

Tiểu đường là gì 8
Chế độ dinh dưỡng hợp lý

Dù bằng cách nào, do đây là “điều trị” bằng chế độ ăn uống nên vẫn cần tham khảo ý kiến bác sĩ phụ trách.

Vận động

Liệu pháp vận động là một phương pháp điều trị thúc đẩy glucose trong máu được đưa vào tế bào để trở thành năng lượng và làm giảm lượng đường trong máu thông qua việc vận động. Tuy nhiên, trong điều trị tiểu đường, không phải loại vận động nào cũng tốt, nhưng nhìn chung thì tập thể dục nhịp điệu vừa phải với mức độ cảm thấy “hơi khó khăn…” và rèn luyện cơ bắp dường như hiệu quả hơn vận động nặng như thi đấu của vận động viên thể thao,.

Ngoài ra, khi bệnh nhân bắt đầu tăng cường vận động nặng nhưng bỏ cuộc giữa chừng do cảm thấy khó hoặc làm tổn thương cơ thể thì việc tập tăng cường cũng không mang lại hiệu quả gì. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ phụ trách trước và lập một chương trình tập luyện ổn định, hiệu quả và phù hợp với khả năng của bản thân.

Tiểu đường là gì 9
Chạy bộ hàng ngày là một phương pháp vận động hữu ích

Điều trị bằng thuốc

Điều trị bằng thuốc là một phương pháp điều trị kiểm soát lượng đường trong máu trong phạm vi bình thường với sự hỗ trợ của thuốc. Có hai phương pháp chính của việc điều trị bằng thuốc là “tiêm insulin” và “uống thuốc hạ đường huyết”, mỗi phương pháp có cách tiến hành khác nhau.

Như đã đề cập trước đó, bệnh tiểu đường là một căn bệnh do lượng đường trong máu tăng lên khi tuyến tụy không tiết insulin hoặc lượng insulin tiết ra bị giảm.

Về cơ bản, có vẻ như điều trị bằng loại thuốc nào phụ thuộc vào “lượng insulin tiết ra từ tuyến tụy”. Thông thường, trường hợp lượng insulin tiết ra từ tuyến tụy rất thấp/gần như không có, biện pháp tiêm insulin được áp dụng, trường hợp việc tiết insulin từ tuyến tuỵ được duy trì ở một mức độ nào đó, biện pháp “uống thuốc hạ đường huyết” được áp dụng.

cta kiến thức tiểu đườngXem ngay Cách điều trị bệnh tiểu đường khoa học, chi tiết, cụ thể.

4. Chi phí điều trị bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường thường được ví là “bệnh nhà giàu” bởi thời gian điều trị lâu dài và chi phí điều trị vô cùng tốn kém. Tuy nhiên chi phí điều trị bệnh tiểu đường khác nhau tùy thuộc vào sự tiến triển của bệnh và tình trạng của bệnh nhân.

Bài viết này đã giới thiệu khái quát về triệu chứng, nguyên nhân, biến chứng, phương pháp điều trị, chi phí điều trị,…của bệnh tiểu đường nói chung. Sau khi đọc xong bài viết, hy vọng mọi người đã có thể hình dung rõ hơn về bệnh tiểu đường nói chung.

https://kienthuctieuduong.vn

Tiểu đường tuýp 1
4.9 (98.85%) 52 votes
Chia sẻ

Tiểu đường tuýp 1

Mọi người thường nghĩ rằng tiểu đường là căn bệnh mà khi ta già đi, béo lên sẽ mắc phải. Tuy nhiên vẫn có những người trẻ bị tiểu đường. Hơn nửa số người mắc tiểu đường thuộc loại tiểu đường tuýp 2. Tuy nhiên bệnh tiểu đường tuýp 1 thường gặp ở những người vừa trẻ, vừa gầy là căn bệnh như thế nào? Qua bài viết này chúng ta hãy cùng tìm hiểu về loại tiểu đường này nhé.

1. Tiểu đường tuýp 1 là căn bệnh như thế nào?

* Những điểm cần chú ý:

+ Hầu hết mọi người mắc tiểu đường là thuộc tuýp 2, nhưng vẫn có người mắc tuýp 1.

+ Tiểu đường tuýp 1 là bệnh mà các tế bào tụy bị phá hủy nên không thể tiết ra insulin.

+ 80% người mắc tiểu đường tuýp 1 có nguyên nhân do hệ miễn dịch bất thường dẫn tới tự sinh ra các kháng thể.

+ Tiểu đường tuýp 1 hầu hết khởi phát ở người trẻ tuổi nhưng không có nghĩa chỉ có mỗi người trẻ bị mắc bệnh.

Mọi người có nghĩ rằng “Tiểu đường là căn bệnh khởi phát ở người bị béo phì lúc trung tuổi” không? Thực ra suy nghĩ này cũng không hẳn là sai. Phần lớn những người mắc tiểu đường (trên 95%) có nguyên nhân là do béo phì bởi việc ăn uống quá độ, ít vận động, dần lớn tuổi, Những người mắc tiểu đường do nguyên nhân này sẽ được phân loại vào tiểu đường tuýp 2.

Chắc hẳn sẽ có người từng nghĩ có tuýp 2 thì hẳn phải có tuýp 1. Và đúng như vậy, so với bệnh tiểu đường tuýp 2, tiểu đường tuýp 1 là căn bệnh hầu hết được phát hiện ở những người khá trẻ.

Tiểu đường tuýp 1 1
Người mắc bệnh tiểu đường là những người ở độ tuổi trẻ.

* Trước hết thì mọi người cần phân biệt tiểu đường tuýp 1 và tuýp 2.

Tiểu đường là căn bệnh mà lượng đường huyết quá cao gây ra những thay đổi bất thường trong cơ thể.

Đường hay nói cách khác là glucose là một chất cần thiết để duy trì hoạt động của cơ thể người. Bởi vì não bộ chỉ có thể sử dụng glucose như một chất dinh dưỡng giúp điều khiển các chức năng của con người. Do đó cơ thể sẽ phải tự điều chỉnh bằng nhiều cách khác nhau sao cho glucose trong máu, hay lượng đường huyết luôn ở mức cân bằng, không quá cao hoặc không quá thấp.

Lượng glucose mà cơ thể cần được cung cấp hầu hết qua việc ăn uống. Bằng hoạt động tiêu hóa thức ăn mà lượng glucose này sẽ được hấp thụ và chuyển thành dinh dưỡng cho não bộ. Hầu hết người mắc tiểu đường tuýp 2 có chế độ ăn uống quá mức nên lượng dinh dưỡng hấp thụ vào cơ thể cũng quá nhiều, dẫn tới lượng đường huyết luôn duy trì ở mức quá cao và lâu dần thành bệnh.

Tuy vậy, cơ thể người sẽ có cơ chế tự cân bằng đường huyết, tức là đường huyết cao cơ thể sẽ điều chỉnh cho nó giảm bớt xuống để cơ thể trở lại bình thường, cho nên để nói dễ dàng mắc tiểu đường thì không có, vì bệnh tiến triển rất từ từ.

Khi cơ thể có mức đường huyết cao, sẽ xuất hiện một loại hormone có vai trò giảm lượng đường huyết xuống có tên là insulin được tiết ra từ tụy. Ở tiểu đường tuýp 2 thì cơ thể sẽ giảm chức năng của insulin khiến cho đường huyết luôn ở mức cao. Còn có một cách gọi khác của tiểu đường tuýp 2 là “mất khả năng dung nạp glucose”.

Mặt khác sẽ có trường hợp không phải là “giảm hiệu quả insulin” mà là “không thể tiết insulin”. Do insulin không thể tiết ra dẫn tới tình trạng đường huyết cao và bị tiểu đường thì gọi chung là “tiểu đường tuýp 1”. Tiểu đường tuýp 1 có thể do tế bào tụy bị hỏng nên không thể tiết ra insulin. Đây chính là điểm để phân biệt tuýp 1 và tuýp 2.

Mọi người cần phân biệt rõ tiểu đường tuýp 1 và tiểu đường tuýp 2 vì cơ chế khác nhau nên cách điều trị như ăn uống, tập luyện và sử dụng thuốc, những thói quen hàng ngày,v.v… cũng khác nhau.

Tiểu đường tuýp 1 5
Bạn có biết thế nào là tiểu đường tuýp 1 và tuýp 2

2. Các triệu chứng, đặc trưng phát bệnh của tiểu đường tuýp 1. Những xét nghiệm cần thiết cho việc chẩn đoán.

* Những điều cần chú ý:

+ Tiểu đường tuýp 1 được chia ra làm 3 loại bệnh.

+ Chẩn đoán chính xác tuýp 1 hoặc tuýp 2, từ đó có những lộ trình trị liệu cụ thể, rõ ràng cho từng loại là rất quan trọng.

Mọi người cần hiểu rõ tiểu đường tuýp 1 được chia ra làm 3 loại : loại phát bệnh cấp tính, loại phát bệnh từ từ, loại nguy cấp. Dựa vào thông tin từ trạng thái trước khi phát bệnh, thời gian của các triệu chứng mà có thể phân biệt với tiểu đường tuýp 2. Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu kỹ từng loại.

– Tiểu đường tuýp 1 – loại phát bệnh cấp tính

Tiểu đường tuýp 1 – loại phát bệnh cấp tính là loại hay gặp nhất trong tiểu đường tuýp 1. Có thể chỉ vài tháng hoặc vài tuần là đã tiến triển thành bệnh.

Sau khi xuất hiện các triệu chứng như hay khát nước, đi tiểu nhiều lần (lượng nước tiểu mỗi lần nhiều), sụt cân, chỉ trong vài tháng chức năng tiết insulin sẽ hoàn toàn biến mất. Trường hợp đột nhiên sụt giảm khả năng tiết insulin, các triệu chứng đi kèm với rối loạn thần kinh ngoại biên (ketoacidosis tiểu đường) cũng có thể xảy ra. Tiểu đường tuýp 1 – loại cấp tính có đặc trưng là do tính tự miễn dịch và dương tính với “các tự kháng thể liên quan tới đảo tụy”. Các kháng thể này tồn tại dưới dạng protein trong cơ thể sẽ tự tấn công các tế bào tụy, khiến tụy bị phá hủy.

– Tiểu đường tuýp 1 – loại phát bệnh từ từ

Tiểu đường tuýp 1 – loại phát bệnh từ từ là bệnh phần lớn xuất hiện ở người từ 30-50 tuổi, và bệnh tiến triển một cách chậm rãi. Do đó cũng có trường hợp bị nhầm lẫn với tiểu đường tuýp 2. Loại này cũng có tính tự miễn dịch, các tế bào tụy cũng bị hệ miễn dịch tấn công, phân biệt rõ với tiểu đường tuýp 2. Việc phát hiện sớm và phân biệt rõ ràng là cực kỳ cần thiết, vì tiểu đường tuýp 1 – loại phát bệnh từ từ và tiểu đường tuýp 2 sẽ có những cách điều trị khác nhau vào những giai đoạn khác nhau.

– Tiểu đường tuýp 1 – loại nguy cấp

Đây là loại khác hoàn toàn so với 2 loại trên, không hề liên quan tới tính tự miễn dịch, và hiện cũng chưa rõ nguyên nhân. Như tên gọi – loại nguy cấp, loại này cũng là loại có thời gian phát bệnh nhanh nhất. Chỉ sau vài ngày với các triệu chứng của cảm cúm như đau họng, sốt, đau bụng,v.v.. là bệnh đã khởi phát. Chỉ sau đó vài ngày, insulin sẽ biến mất và kèm theo rối loạn ý thức có thể xuất hiện.

Đối với những người được xác định là bị bệnh tiểu đường, việc tiếp theo là “chẩn đoán loại bệnh”, cụ thể là dựa vào nguyên nhân bệnh để khám và chẩn đoán phân biệt bệnh tiểu đường tuýp 1 hay tuýp 2.

Mặc dù có nhiều phương pháp để kiểm tra đó có phải tiểu đường tuýp 1 không, nhưng yếu tố quyết định cuối cùng để chẩn đoán tuýp 1 là xem trong cơ thể có tồn tại protein được gọi là “tự kháng thể” sẽ nhầm lẫn tự tấn công và phá hủy tế bào. Các tự kháng thể phổ biến là “kháng thể GAD”, “kháng thể tế bào đảo tụy <ICA>”, “tự kháng thể insulin <IAA>”, “kháng thể IA-2”,…. Một khi các kháng thể này được tìm thấy, khả năng mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 rất cao.

Mặt khác, có 20% bệnh tiểu đường tuýp 1 không phải do mất khả năng kiểm soát miễn dịch và tự kháng thể không được tạo ra. Nói cách khác, trong số 5 người bị bệnh tiểu đường tuýp 1 thì có 1 người mắc bệnh do tế bào tuyến tụy bị phá hủy không rõ nguyên nhân và insulin không được tiết ra. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tiểu đường tuýp 1 khởi phát cấp tính (2012), trường hợp dù không tìm thấy tự kháng thể nhưng insulin không được tiết ra từ tuyến tụy hoặc có tiết ra nhưng lượng không đủ thì có khả năng cao là bệnh tiểu đường tuýp 1.

Insulin tiết ra từ tuyến tụy được chuyển hóa ngay sau khi được tiết ra, do đó không thể lấy mẫu máu và đo được. Khi insulin được tiết ra từ tuyến tụy, lượng insulin tiết ra có thể được ước tính bằng cách đo thành phần “C-peptide” đồng thời tiết ra với lượng giống nhau. Chất này thường được sử dụng vì nó có thể đo được trong nước tiểu. Đo lượng C-peptide trong nước tiểu và máu, nếu kết quả cho giá trị cực kỳ thấp, bệnh nhân có thể được chẩn đoán là bệnh tiểu đường tuýp 1.

Để kiểm tra xem insulin có được tiết ra từ tuyến tụy hay không, tiến hành xét nghiệm gọi là “xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT)”. Các bác sĩ sử dụng kết quả của xét nghiệm này như là một căn cứ để chẩn đoán đó có phải là bệnh tiểu đường loại 1 không.

Khi kiểm tra để xác nhận bệnh tiểu đường tuýp 1, tuổi tác cũng là yếu tố cần tham khảo. Nhiều người bị bệnh tiểu đường tuýp 1 được cho biết bệnh đã khởi phát từ nhỏ đến khi trưởng thành. Cầu thủ Sugiyama Arata của giải J League đã bị bệnh tiểu đường tuýp 1 khi 23 tuổi và là cầu thủ được biết đến vẫn hoạt động như một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp dù bị bệnh tiểu đường. Người ta nói rằng nhiều bệnh tiểu đường tuýp 1 thường khởi phát ở những người trẻ tuổi. Ngược lại, bệnh tiểu đường tuýp 2 thường khởi phát ở những người béo phì và trung tuổi. Tuy nhiên, cũng có những người bị bệnh tiểu đường tuýp 1 khi trung tuổi, do đó không thể phân loại bệnh tiểu đường theo độ tuổi.

Bệnh tiểu đường có lộ trình điều trị khác nhau tùy thuộc vào đó là bệnh tiểu đường tuýp 1 hay tuýp 2. Ngoài ra, lối sống của bệnh nhân cũng sẽ thay đổi theo cách điều trị khác nhau. Khám bệnh tiểu đường và chẩn đoán xem đó là tuýp 1 hay tuýp 2 là rất quan trọng trong việc tiến hành điều trị và sống cùng với bệnh.

3. Điều trị tiểu đường tuýp 1: tại sao insulin lại được ưu tiên?

* Những điểm cần chú ý:

+ Vì tiểu đường tuýp 1 thiếu insulin nên điều trị bằng tiêm insulin là bắt buộc.

+ Các phương pháp mới như tiêm insulin dưới da liên tục, vòng theo dõi đường huyết giúp kiểm soát đường huyết cũng đã khả dụng.

+ Nhờ các phương pháp điều trị tiên tiến hiện nay, người mắc tiểu đường tuýp 1 cũng có thể sống cuộc sống như người bình thường.

– Giải pháp duy nhất chữa tiểu đường tuýp 1 là tiêm bổ sung insulin

Mọi người thường nghĩ rằng nếu điều trị tiểu đường thì cố gắng chọn những phương pháp đơn giản và hiệu quả nhất. Chính vì vậy cũng đã có người tập trung vào thuốc uống điều trị tiểu đường tuýp 1. Tuy nhiên tiểu đường tuýp 1 là loại bệnh mà chắc chắn cơ thể không đủ insulin để dùng, cho nên mọi người không thể lựa chọn thuốc uống được. Căn bản của trị liệu tiểu đường loại 1 là tự tiêm insulin.

Hiện tại trong điều trị tiểu đường tuýp 2, các loại thuốc uống có tác dụng tăng khả năng tiết ra insulin của tụy, phân giải hoặc trì hoãn tác dụng của đường (glucose). Theo đó, tăng hiệu quả của insulin trong cơ thể và làm giảm các triệu chứng của bệnh tiểu đường. Nói 1 cách đơn giản hơn là giúp cho insulin được cơ thể tạo ra hoạt động một cách hiệu quả hơn.

Thế nhưng tiểu đường tuýp 1 là căn bệnh mà tế bào tụy tiết ra insulin bị phá hủy. Cơ thể không có insulin (không tạo ra insulin được) nên giải pháp duy nhất là phải tiêm bổ sung insulin.

Khi ăn, cơ thể sẽ tiết ra một lượng insulin thích hợp để giúp lượng đường huyết duy trì ở mức ổn định, làm cơ thể khỏe mạnh. Thuốc insulin trong điều trị tiểu đường lấy điều này làm căn bản, tức là đưa cơ thể về trạng thái tiết insulin giống như người khỏe mạnh bình thường.

– Tiêm insulin 1 ngày từ 1 đến 2 lần

Để cơ thể có thể tiết insulin ra từng chút một giống như bình thường, người ta sẽ sử dụng một loại thuốc insulin có hiệu quả tương đối dài (loại tác dụng trung gian hoặc loại tác dụng kéo dài) được tiêm 1 ngày từ 1 đến 2 lần. Mặt khác, khi ăn uống, để khôi phục khả năng tiết insulin ngay lập tức (tiết bổ sung) người ta sẽ tiêm một loại insulin tác dụng nhanh. Nó còn được gọi là liệu pháp insulin tích cực.

Một vấn đề gặp phải khi tiêm insulin là phần da chỗ tiêm sẽ trở nên cứng nếu tiêm lặp lại nhiều lần ở cùng một chỗ. Ngoài ra việc theo dõi một ngày tiêm bao nhiêu lần cũng rất khó. Để khắc phục những vấn đề này, có một phương pháp “truyền insulin dưới da liên tục (CSII)” mà không cần tiêm nhiều lần. Cách này cũng được gọi là “bơm insulin”, là một máy bơm gắn vào cơ thể và duy trì tiêm insulin dưới da tương đương với lượng tiết cơ bản từ một kim tiêm ở bụng. Hơn nữa, có thể tiêm insulin tương ứng với lượng tiết bổ sung bằng cách thay đổi tốc độ của máy bơm trước mỗi bữa ăn. Tần suất thay thế máy bơm chỉ vài lần một vài ngày, giúp bệnh nhân tránh được việc phải tiêm nhiều lần trong 1 ngày.

Cách bơm insulin này gần với nhịp độ tiết insulin tự nhiên của cơ thể, nên có điểm lợi là bệnh nhân có thể ăn uống và vận động thoải mái. Ngoài ra, người ta cho rằng việc sử dụng bơm insulin giúp làm giảm tỷ lệ bị các biến chứng tiểu đường như bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh thần kinh tiểu đường, bệnh thận do tiểu đường.

Khi tự tiêm insulin, bệnh nhân cần tự đo lượng đường trong máu của mình. Việc đo này cũng rất khó khăn đối với bệnh nhân. Dùng cây kim nhỏ chích ở đầu ngón tay để máu chảy ra và đo lượng đường trong máu. Đây là cách đo đem lại đau đớn cho bệnh nhân khi phải làm nhiều lần trong ngày. Do đó, có thể đo đường huyết bằng cách đo lượng đường của dịch kẽ dưới da mà không cần lấy máu. Đeo thiết bị cảm biến trên cánh tay và lượng đường trong máu có thể được đo liên tục trong 14 ngày. Có thể đo lượng đường trong máu liên tục mà không cần đâm kim nhiều lần.

Ngoài ra còn có một phương pháp điều trị được gọi là liệu pháp SAP kết hợp truyền insulin dưới da bền liên tục với một màn hình quan sát đường huyết liên tục để kiểm soát đường huyết thích hợp hơn.

– Phương pháp ghép tụy

Bên cạnh đó còn có phương pháp ghép tụy cho bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 mà không thể kiểm soát được đường huyết. Nhiều bệnh nhân còn bị rối loạn chức năng thận, vì vậy tụy và thận thường được cấy ghép cùng một lúc. Sau khi cấy ghép, bệnh nhân phải dùng thuốc ức chế miễn dịch, nhưng có báo cáo rằng tuổi thọ của bệnh nhân được cấy ghép dài hơn bệnh nhân không cấy ghép.

Ngoài cấy ghép tuyến tụy, còn có một phương pháp được gọi là cấy ghép đảo tụy. Trong tuyến tụy, các mô tạo insulin được gọi là đảo tụy và phần này chỉ chiếm 1% tuyến tụy. Phẫu thuật cấy ghép toàn bộ tuyến tụy đòi hỏi gây mê toàn thân và gánh nặng lên cơ thể tăng lên. Phương pháp chỉ loại bỏ các đảo tụy có vai trò tạo insulin từ trong tuyến tụy và cấy ghép từ mạch máu của gan được gọi là cấy ghép đảo tụy. So với ghép tụy, phương pháp này giúp giảm gánh nặng cho bệnh nhân.

Ghép tụy và ghép đảo tụy chỉ có thể được thực hiện tại một số các cơ sở y tế, và số lượng bệnh nhân được phẫu thuật cũng bị giới hạn.

Các nghiên cứu khác về tuyến tụy nhân tạo đang được tiến hành. Ví dụ: ngày 27 tháng 5 năm 2016 đã công bố chính sách phê duyệt trong trường hợp bệnh nhân thỏa mãn điều kiện ghép tế bào tuyến tụy của lợn với người mà Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản đã cấm từ trước đến nay. Do đó, số lượng người có thể điều trị ghép cho đến nay có thể được cải thiện trong tương lai gần.

Việc phát triển thành công “cấy ghép tế bào đảo tụy lợn vi nang được bọc trong một bao nhỏ gọi là “vi nang” cũng đã được công bố. Bằng cách đó, người ta cho rằng sự viêm nhiễm và phản ứng loại thải miễn dịch gây ra bởi sự cấy ghép tế bào động vật lên con người có thể giảm đáng kể.

Ngoài ra, vì phần lớn bệnh tiểu đường tuýp 1 là do bất thường của hệ thống miễn dịch nên đã có “liệu pháp miễn dịch” nhằm điều trị những bất thường này của hệ thống miễn dịch. Mặc dù các loại thuốc có tác dụng trên một số hệ thống miễn dịch đã được thử nghiệm nhưng không đạt đến hiệu quả trong việc chữa trị bệnh tiểu đường tuýp 1.

Hiện tại mặc dù chưa công bố nhưng nghiên cứu về tái sinh chính tuyến tụy cũng được khuyến khích. Có những nghiên cứu về tạo và cấy chính tuyến tụy trong cơ thể heo bằng cách sử dụng tế bào ES và tế bào iPS và nghiên cứu để tái tạo tuyến tụy trong cơ thể bằng cách kích thích mạng nơ-ron.

4. Tổng kết

Trong tổng số người bị tiểu đường chỉ có dưới 5% là thuộc tiểu đường tuýp 1 hiếm gặp, các triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị đã được nêu trong bài. Tiểu đường tuýp 1 có thể xảy ra nhanh chóng ở những người trẻ, nhưng cũng có thể phát triển rất chậm ở người già. Dù là đối tượng người bệnh nào thì việc thiếu hụt insulin là không thay đổi, tiểu đường tuýp 1 không phải bệnh có thể trị liệu bằng ăn uống, tập luyện được mà cần điều trị bằng insulin. Khi bệnh càng phát triển thì việc tiêm insulin và theo dõi đường huyết càng cần diễn ra liên tục hơn, điều này có thể gây khó khăn cho người bệnh. Tuy nhiên hiện nay, y học càng ngày càng hiện đại với các dụng cụ tiêm insulin và đo đường huyết liên tục đã giúp cho người bệnh có thể tự kiểm soát, chữa trị bệnh dễ dàng hơn.

https://kienthuctieuduong.vn/

Tiểu đường tuýp 1
4.9 (98.85%) 52 votes
Chia sẻ

Tiểu đường tuýp 2

Tiểu đường tuýp 2 là căn bệnh khá phổ biến tại Việt Nam. Bệnh này nếu không được chẩn đoán sớm để điều trị kịp thời sẽ để lại biến chứng nghiêm trọng. Bạn cần nắm rõ tiểu đường tuýp 2 là gì , nguyên nhân gây ra tiểu đường tuýp 2, triệu chứng bệnh để bảo vệ bản thân và người thân xung quanh.

1. Tiểu đường tuýp 2 là gì?

Bệnh tiểu đường tuýp 2 (tiểu đường type 2) là loại bệnh tiểu đường trong đó lượng đường trong máu bệnh nhân luôn cao do thiếu tác dụng của insulin. Bệnh tiểu đường được chia thành tiểu đường tuýp 1, tuýp 2, tiểu đường thai kỳ và các loại khác (tính đến tháng 3 năm 2018). Trong số đó, bệnh tiểu đường tuýp 2 là loại bệnh phổ biến nhất và chiếm hơn 90% trong bệnh tiểu đường nói chung. Phần lớn bệnh tiểu đường tuýp 2 khởi phát do chế độ ăn uống không lành mạnh, thiếu vận động hoặc do tình trạng béo phì và còn do các yếu tố môi trường.

Bệnh tiểu đường là một căn bệnh âm thầm tiến triển mà bệnh nhân thường không biết và không có triệu chứng ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, nếu tình trạng bệnh tiểu đường tiếp tục tiến triển có thể dẫn đến xuất hiện 3 biến chứng lớn là bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh thận tiểu đường, bệnh thần kinh ngoại biên (bệnh thần kinh tiểu đường). Bên cạnh đó, bệnh còn tăng nguy cơ dẫn đến các bệnh do tổn thương đại mạch như nhồi máu cơ tim và nhồi máu não.

Ngoài ra, một số bệnh khác như bệnh nha chu, suy giảm trí nhớ, ung thư, bệnh loãng xương cũng dễ xảy ra do bệnh tiểu đường. Bệnh nha chu được cho là có liên quan đến sự chuyển biến xấu đi của bệnh tiểu đường.

Tiểu đường tuýp 2 là gì
Tiểu đường tuýp 2 là gì?

2. Nguyên nhân gây ra tiểu đường tuýp 2 

Trong bệnh tiểu đường loại 2, có những trường hợp là do lượng tiết insulin bị giảm và cũng có trường hợp do chức năng insulin bị suy giảm (kháng insulin). Nguyên nhân của bệnh là do yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường.

+ Yếu tố di truyền

Đó là gen di truyền liên quan đến việc tiết insulin hoặc chức năng tuyến tụy và người ta nói rằng khi những bất thường về gen di truyền này chồng lên nhau, bệnh tiểu đường tuýp 2 có nhiều khả năng khởi phát hơn.

+ Yếu tố môi trường

Yếu tố môi trường là sự gia tăng lượng hấp thụ chất béo do béo phì, thiếu vận động và thói quen ăn uống theo phong cách Tây u. Ngoài ra còn liên quan đến chế độ ăn uống không cân bằng dinh dưỡng và thói quen ăn uống không lành mạnh.

Trong những năm gần đây, người ta đã chỉ ra rằng việc thiếu lượng hấp thụ chất xơ và magie do sự thay đổi chế độ ăn uống sau chiến tranh (như giảm mạnh lượng hấp thụ lúa mạch và ngũ cốc) có ảnh hưởng lớn đến sự khởi phát của bệnh tiểu đường tuýp 2.

Tiểu đường tuýp 2 là gì 1
Những người bị thừa cân, béo phì rất dễ bị tiểu đường tuýp 2

3. Triệu chứng của bệnh tiểu đường tuýp 2

Bệnh tiểu đường tuýp 2 hầu như không có triệu chứng rõ ràng và bệnh nhân cũng không nhận biết được bệnh. Khi bệnh chuyển biến xấu đi và bệnh nhân rơi vào tình trạng tăng đường huyết ketosis và nhiễm toan ceton, sẽ xuất hiện các triệu chứng như khát nước, uống nhiều nước, đa niệu, cảm giác mệt mỏi và sụt giảm cân nặng…

+ Đa niệu

Khi lượng đường huyết cao, cơ thể sẽ đào thải bớt đường qua nước tiểu. Khi đó thận sẽ kéo nước từ trong cơ thể để pha loãng nước tiểu, khiến khối lượng nước tiểu tăng lên. Đây là lý do làm cho người bệnh thường xuyên đi tiểu.

+ Khát nước

Việc tiểu nhiều sẽ làm cơ thể tăng nhu cầu sử dụng nước để bù lại lượng nước đã mất. Điều này sẽ kích thích làm người bệnh luôn cảm thấy khát nước và uống nhiều nước hơn.

+ Cảm thấy kiệt sức

Tiểu đường tuýp 2 là gì 3
Cơ thể người bệnh thường xuyên cảm thấy mệt mỏi

+ Da khô và ngứa

+ Cảm giác của chân tay bị giảm, thỉnh thoảng thấy hơi nhói đau

+ Hay bị nhiễm trùng

+ Đi tiểu nhiều lần

+ Mờ mắt

+ Có vấn đề về chức năng tình dục

Tiểu đường tuýp 2 là gì 4
Tiểu đường tuýp 2 hay đái tháo đường loại 2 gây ảnh hưởng xấu tới chức năng tình dục

+ Khó lành sẹo hay các vết bầm

+ Hay có các cảm giác rất đói hoặc rất khát

Khi bất cứ ai trong gia đình có triệu chứng trên, có thể họ đã mắc bệnh tiểu đường hay tiền tiểu đường. Chính vì vậy bạn hãy đi khám ngay để kiểm soát bệnh tốt hơn nhé. Ngoài ra mọi người cũng nên chú ý tới chế độ ăn uống thích hợp, chăm chỉ tập luyện thể dục thể thao, và cũng nên chú ý tới nguy cơ béo phì nữa nhé.

4. Biến chứng

Nếu bệnh tiểu đường tuýp 2 tiếp tục tiến triển sẽ tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng khác nhau. 3 biến chứng lớn là bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh thận tiểu đường, tổn thương thần kinh (bệnh thần kinh tiểu đường), ngoài ra còn gây ra các bệnh lây nhiễm khác nhau do khả năng miễn dịch của cơ thể giảm và các bệnh như nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xơ vữa động mạch tắc nghẽn do xơ vữa động mạch.

5. Xét nghiệm/Chẩn đoán

Kết quả xét nghiệm máu được sử dụng để chẩn đoán bệnh tiểu đường tuýp 2.

+ Lượng đường trong máu

Đầu tiên sẽ kiểm tra lượng đường trong máu của bệnh nhân. Lượng đường trong máu có thể được chia thành đường huyết lúc đói và đường huyết ngẫu nhiên tùy thuộc vào thời gian của bữa ăn. Đường huyết lúc đói ≥126 mg/dl hoặc đường huyết ngẫu nhiên ≥200 mg/dl là một trong những điều kiện để chẩn đoán bệnh tiểu đường.

+ HbA1c

Giá trị của HbA1c (hemoglobin A1c (NGSP)) cũng quan trọng trong chẩn đoán bệnh tiểu đường và nếu giá trị này ≥6,5% (giá trị NGSP) thì bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường. Giá trị HbA1c là giá trị phản ánh chỉ số đường huyết trung bình trong 1-2 tháng trước. Điều này là do glucose trong máu liên kết với moglobin và tuổi thọ trung bình của hồng cầu là 120 ngày (khoảng 4 tháng).

+ Xét nghiệm dung nạp glucose 75g đường uống (75g OGTT)

Ngoài ra, xét nghiệm dung nạp glucose 75g đường uống (75g OGTT) có thể được thực hiện để kiểm tra sự thay đổi lượng đường trong máu. Trong xét nghiệm này, sau khi cho bệnh nhân hấp thụ 75g glucose, tiến hành lấy máu theo thời gian và đo lượng đường trong máu.

Đối với những người khỏe mạnh, lượng đường trong máu đạt đến giá trị tối đa khoảng 30 phút sau khi uống, và trở về mức dưới giá trị tiêu chuẩn hoặc sau khoảng 2 giờ. Tuy nhiên, trong trường hợp của bệnh tiểu đường (loại bệnh tiểu đường), lượng đường trong máu không giảm hoàn toàn và vẫn còn cao. Giá trị đường huyết sau 2 giờ từ ≥200 mg/dl là một trong những điều kiện chẩn đoán bệnh tiểu đường.

Tiểu đường tuýp 2 là gì 5
Xét nghiệm máu để chẩn đoán bệnh tiểu đường tuýp 2

Bệnh tiểu đường tuýp 2 được chẩn đoán toàn diện bằng cách kết hợp các kết quả của các xét nghiệm này.

6. Điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2

Cơ sở trong điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2 là liệu pháp ăn uống và liệu pháp vận động. Việc điều trị như cải thiện chế độ ăn uống, vận động vừa phải và kết hợp dùng thuốc là rất quan trọng.

+ Liệu pháp ăn uống

Bệnh nhân cần biết lượng năng lượng thích hợp để hấp thụ dựa trên lượng hoạt động thể chất và cân nặng, từ đó cố gắng tạo một chế độ ăn uống cân bằng theo hướng dẫn. Đối với ngũ cốc nên ăn ngũ cốc nguyên hạt.

+ Liệu pháp vận động

Bệnh nhân cần thường xuyên vận động vừa phải theo hướng dẫn và đi bộ đầy đủ mỗi ngày. Điều quan trọng là cần vận động cơ thể thường xuyên.

Tiểu đường tuýp 2 là gì 6
Bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 nên đi bộ nhẹ nhàng mỗi ngày

+ Điều trị bằng thuốc

Trường hợp bệnh nhân không thể kiểm soát lượng đường trong máu bằng liệu pháp ăn uống và liệu pháp vận động, tiến hành điều trị bằng thuốc. Đầu tiên, sẽ sử dụng một hoặc nhiều loại thuốc uống điều trị tiểu đường khác với insulin tùy theo tình trạng bệnh nhân. Trường hợp sử dụng thuốc uống điều trị tiểu đường nhưng không có hiệu quả, bệnh nhân có thể kết hợp điều trị bằng insulin hoặc chuyển sang chỉ điều trị bằng insulin.

Dù là bệnh tiểu đường loại nào thì quan trọng nhất trong điều trị là ở chính người bệnh chứ không ai khác. Hãy tích lũy, thu thập thông tin để có thật nhiều hiểu biết về bệnh tiểu đường tuýp 2, và càng có nhiều kiến thức về tiểu đường thì bạn càng dễ dàng quản lý bệnh hơn.

https://kienthuctieuduong.vn/

Tiểu đường tuýp 1
4.9 (98.85%) 52 votes
Chia sẻ

Tiền tiểu đường

Nên cải thiện lối sống, chế độ ăn uống, vận động, phòng ngừa tiền tiểu đường và giảm thiểu nguy cơ tiểu đường – căn bệnh đang trở thành mối hiểm họa của toàn xã hội.

1. Tiền tiểu đường là gì?

1.1 Tiền tiểu đường là nhóm tiền thân của bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường tuýp 2 khởi phát khi lượng đường trong máu dần dần tăng lên do các yếu tố lối sống như ăn quá nhiều, thiếu vận động và béo phì. Trong quá trình phát triển bệnh tiểu đường, “tiền tiểu đường” nằm giữa giai đoạn cơ thể bình thường và giai đoạn bị bệnh tiểu đường. Lượng đường trong máu của bệnh nhân tiền tiểu đường cao hơn giá trị bình thường. Mặc dù bệnh tiểu đường vẫn chưa phát triển, nếu bệnh nhân tiếp tục duy trì lối sống như thế, có khả năng cao bị tiểu đường.

Tiền tiểu đường
Bệnh tiền tiểu đường

1.2 Bệnh tiền tiểu đường có nguy cơ đe dọa tính mạng cao

Theo “Khảo sát sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia” do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản thực hiện năm 2009, có khoảng 10 triệu người thuộc nhóm tiền thân của tiểu đường không được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường ở Nhật Bản.

Bệnh nhân không nên có ý nghĩ an tâm rằng “Tiền tiểu đường không phải là bệnh tiểu đường nên không sao cả”. Bệnh tiền tiểu đường không chỉ có nguy cơ khiến bệnh tiểu đường khởi phát ở người khỏe mạnh lên cao. Mà hiện tượng “xơ cứng động mạch” cũng bắt đầu tiến triển từ giai đoạn nhóm tiền thân của bệnh tiểu đường.

Bệnh tiền tiểu đường 1
Người bệnh có nguy cơ cao bị nhồi máu cơ tim

1.3 Các bệnh liên quan đến tính mạng do xơ cứng động mạch gây ra

Xơ cứng động mạch là trạng thái trong đó chất béo gọi là mảng xơ bám trên thành mạch máu và trở nên dày hơn.

Những người bị đường huyết cao có nhiều khả năng phát triển mảng xơ và dần dần các mạch máu của toàn bộ cơ thể bị rách vỡ. Xơ cứng động mạch tiến triển sẽ làm tăng nguy cơ gây ra các bệnh do xơ cứng động mạch như “đau thắt ngực”, “nhồi máu cơ tim”, “nhồi máu não” và “xơ cứng động mạch tắc nghẽn”. Vì xơ cứng động mạch tiến triển chậm theo thời gian nên điều quan trọng là bệnh nhân cần chú ý để phòng ngừa sự khởi phát và tiến triển của bệnh.

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tiền tiểu đường

2.1 Chỉ số đường huyết lúc đói

Chỉ số đường huyết lúc đói, như tên gọi của nó, là một xét nghiệm để đo chỉ số đường huyết sau khi lấy mẫu máu của bệnh nhân trong tình trạng đói.

Bệnh nhân phải nhịn bữa sáng vào ngày xét nghiệm và lượng nước hấp thụ chỉ được giới hạn là nước và trà không chứa đường. Xét nghiệm này là một mục lấy mẫu máu trong khám sức khỏe tổng quát.

Trong hướng dẫn điều trị năm 2016 của Hiệp hội tiểu đường Nhật Bản đã phân loại những người có chỉ số đường huyết lúc đói là “110~126mg/dL” là bệnh tiền tiểu đường. Tuy nhiên, những người có chỉ số “100~109mg/dL” được phân loại là “giá trị cao bình thường” và được phân biệt với “giá trị bình thường” vì bệnh tiền tiểu đường có thể được phát hiện bằng xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT).

Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT) có thể được thực hiện khi chỉ số đường huyết lúc đói được phân loại là “bệnh tiền tiểu đường” và “giá trị cao bình thường”.

Bệnh tiền tiểu đường 2
Tiến hành lấy máu của bệnh nhân trong lúc đói

Tiêu chuẩn chỉ số đường huyết lúc đói của bệnh tiền tiểu đường:

Phân loại Chỉ số đường huyết lúc đói
Bệnh tiểu đường ≥ 126mg/dL
Bệnh tiền tiểu đường 110~126mg/dL
Giá trị cao bình thường 100~109mg/dL
Giá trị bình thường ≤ 100mg/dL

2.2 Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT)

Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT) là một phương pháp xét nghiệm không được thực hiện trong khám sức khỏe tổng quát. Xét nghiệm này thực hiện khi bệnh nhân nhịn ăn hơn 10 giờ từ sau bữa tối ngày hôm trước và tiến hành lấy mẫu máu ở trạng thái đói. Sau đó, bệnh nhân được hấp thụ glucose hòa tan trong nước, tiến hành lấy mẫu máu nhiều lần cách từng khoảng thời gian nhất định rồi kiểm tra xem có sự tăng lượng đường trong máu sau bữa ăn không và sau đó lượng đường trong máu giảm xuống giá trị bình thường không. Trong xét nghiệm này, có thể phát hiện “bệnh tiểu đường tiềm ẩn” của đối tượng có lượng đường trong máu chỉ tăng sau khi ăn dù lượng đường trong máu thông thường ở mức bình thường.

<Quy trình xét nghiệm dung nạp Glucose đường uống (OGTT)>

– Bệnh nhân cần nhịn ăn trong hơn 10 giờ từ sau bữa tối ngày hôm trước.

– Lấy mẫu máu ở trạng thái đói vào buổi sáng ngày hôm sau (khuyến khích khoảng 9 giờ sáng).

– Uống dung dịch glucose 75g hòa tan trong nước.

– Ngay sau khi uống glucose, lấy mẫu máu sau 30 phút, sau 1 giờ, sau 2 giờ.

Hướng dẫn điều trị bệnh tiểu đường năm 2016 xác định rằng trường hợp chỉ số trong 2 giờ xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT) là 140~200mg/dL, bệnh nhân được chẩn đoán “bệnh tiền tiểu đường”. Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống chỉ được thực hiện khi bác sĩ nhận thấy cần thiết. Do đó, bệnh nhân lo ngại về tăng đường huyết sau bữa ăn, hãy đến khám tại “Khoa nội” hoặc “Khoa nội về bệnh tiểu đường” và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Bệnh tiền tiểu đường 3
Người bệnh có thể được yêu cầu xét nghiệm glucose đường uống

Tiêu chuẩn chỉ số xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT) của bệnh tiền tiểu đường:

Phân loại Chỉ số trong 2 giờ xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT)
Bệnh tiểu đường ≥ 200mg/dL
Bệnh tiền tiểu đường 140~200mg/dL
Giá trị bình thường < 140mg/dL

Đối tượng cần xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT)

Xét nghiệm dung nạp clucose đường uống (OGTT) là một xét nghiệm không được thực hiện trong việc khám sức khỏe bình thường. Trong chẩn đoán bệnh tiểu đường, xét nghiêm này sẽ được thực hiện theo chỉ định của bác sĩ chỉ khi cần thiết.

Trong hướng dẫn điều trị bệnh tiểu đường năm 2016, trường hợp bệnh nhân có “chỉ số đường huyết lúc đói từ 110~125 mg/dL” và “giá trị HbA1c là 6.0~6.4”, nên tiến hành xét nghiệm OGTT và ngay cả trường hợp bệnh nhân có “chỉ số đường huyết lúc đói từ 100~109 mg/dL”, “giá trị HbA1c là 5.6~5.9”, trường hợp gia đình có người mắc bệnh tiểu đường hoặc bản thân là người béo phì, xét nghiệm OGTT được khuyến khích tiến hành.

<Trường hợp nên xét nghiệm OGTT>

Khuyến cáo mạnh mẽ Nên tiến hành
Chỉ số đường huyết khi đói 110~125mg/dL 110~125mg/dL
HbA1c 6.0~6.4 5.6~5.9
Các yếu tố khác Chỉ số đường huyết ngẫu nhiên 110~125mg/dL Gia đình có người bị tiểu đường, bản thân bị béo phì

3. Những người bị tiền tiểu đường nên nhanh chóng cải thiện lối sống

3.1 Cải thiện lối sống có thể cải thiện lượng đường trong máu

Nếu bệnh nhân tiếp tục duy trì lối sống không lành mạnh như ăn quá nhiều và thiếu vận động với suy nghĩ “Vì bản thân không bị bệnh tiểu đường nên bây giờ không cần quan tâm bất kỳ điều gì”, dần dần sẽ tiến triển thành bệnh tiểu đường.

Bệnh tiểu đường hầu như không có triệu chứng cơ năng, và sẽ khó chữa khỏi khi phát bệnh. Tuy nhiên, trong trường hợp bệnh tiền tiểu đường, bệnh nhân có thể làm giảm lượng đường trong máu bằng cách chú ý đến lối sống lành mạnh.

3.2 Phương pháp cải thiện lượng đường trong máu

Để không bị bệnh tiểu đường, điều quan trọng cần phải chú ý về việc ăn uống hàng ngày.

Mặc dù phần lớn mọi người đều biết rằng việc ăn quá nhiều sẽ dẫn đến sự gia tăng lượng đường trong máu, nhưng cũng có rất nhiều người không thực sự biết chế độ ăn uống như thế nào là phù hợp với bản thân.

Để phòng ngừa việc ăn quá nhiều, trước hết người bệnh cần phải biết “cân nặng phù hợp” và “lượng hoạt động thể chất” của bản thân.

– Cân nặng phù hợp

Cân nặng phù hợp được tính là “22×bình phương chiều cao (m) “.

Ví dụ, cân nặng tiêu chuẩn của người cao 170 cm là 1.7 m × 1.7 m × 22=63,58 kg.

– Lượng hoạt động thể chất

Lượng hoạt động thể chất sẽ thay đổi lượng calo có thể tiêu thụ mỗi ngày theo nội dung công việc.

Công việc nhẹ (phần lớn là công việc văn phòng) 25〜30kcal/kg
Công việc thông thường (phần lớn công việc thường phải đứng) 30〜35kcal/kg
Công việc nặng (phần lớn là công việc lao động chân tay) 35〜 kcal/kg

– Lượng calo hấp thụ phù hợp

Lượng calo hấp thụ thích hợp được tính bằng “cân nặng phù hợp × lượng hoạt động thể chất”.

Trường hợp một nhân viên văn phòng cao 170cm, lượng calo sẽ được tính bằng 30 kcal x 63.58 kg = 1907 kcal/ngày.

Bệnh tiền tiểu đường 4
Tính toán lượng calo hấp thụ mỗi ngày

3.3 Phương pháp cải thiện lượng đường trong máu ②: vận động

Vận động có thể làm giảm lượng đường trong máu đã tăng cao, những người mắc bệnh tiểu đường sẽ áp dụng điều trị bằng “liệu pháp vận động”. Vận động có hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh tiểu đường, và việc thường xuyên thực hiện bài “tập aerobic” và “tập sức bền” được khuyến cáo trong e-healthnet của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản.

– Tập aerobic

Hãy cố gắng thực hiện các bài tập aerobic như “đi bộ”, “chạy bộ”, “đi xe đạp”, “bơi”,…ít nhất 3-5 lần một tuần. Việc tập aerobic được cho là có hiệu quả đối với vấn đề tăng đường huyết nếu thực hiện bài tập với mức độ mà bản thân cảm thấy “vừa đủ” trong 20-60 phút một ngày.

– Tập sức bền

Ngoài tập aerobic, nếu thực hiện “tập sức bền” để rèn luyện cơ bắp, sẽ có hiệu quả hơn trong việc cải thiện lượng đường trong máu. Có thể tập các bài tập như “cơ bụng”, “squat”, “chống đẩy”, “bài tập tạ” cùng với bài tập aerobic 2-3 lần một tuần.

Bệnh tiền tiểu đường 5
Tập aerobic mỗi ngày tốt cho sức khỏe

Các giá trị mục tiêu khác

Bên cạnh chỉ số đường huyết, việc quản lý cân nặng và cholesterol cũng rất quan trọng. Phần dưới đây giới thiệu các giá trị mục tiêu chung được mô tả trong “Hướng dẫn điều trị bệnh tiểu đường 2016 – 2017”.

HbA1c < 6.0
Duy trì cân nặng tiêu chuẩn Trên dưới 22 BMI (BMI là một giá trị số biểu thị mức độ béo phì, được tính bằng [cân nặng (kg)] ÷ [bình phương chiều cao (m)] )
Huyết áp < 130/80 mmHg (huyết áp đo tại nhà <125/75 mmHg)
LDL cholesterol <120 mg/dL (<100 mg/dL khi có bệnh động mạch vành)
HDI cholesterol ≥40mg/dL
Chất béo trung tính (khi đói bụng vào sáng sớm) <150mg/dL
Non-HDL Cholesterol <150 mg/dL (<130 mg/dL khi có bệnh động mạch vành)
Bệnh tiền tiểu đường 6
Biết cách quản lý cân nặng của cơ thể

4. Kết luận

Bệnh tiểu đường (type 2) được cho là khởi phát do sự tăng đường huyết mãn tính. Bệnh tiền tiểu đường nằm giữa giai đoạn cơ thể bình thường và giai đoạn bị bệnh tiểu đường, còn được gọi là “nhóm tiền thân của bệnh tiểu đường”. Ở giai đoạn của bệnh tiền tiểu đường, nếu bệnh nhân cải thiện toàn diện lối sống của bản thân, có thể làm giảm lượng đường trong máu và ngăn chặn sự khởi phát của bệnh tiểu đường. Một khi bệnh tiểu đường phát triển, bệnh nhân phải tiếp tục điều trị để giảm lượng đường trong máu. Nguy cơ xuất hiện biến chứng tiêu biểu của bệnh tiểu đường giảm đáng kể thì chất lượng cuộc sống cũng sẽ tăng lên. “Phòng ngừa” trước khi bệnh tiểu đường phát triển là điều quan trọng nhất để có thể duy trì một cuộc sống khỏe mạnh.

Tiểu đường tuýp 1
4.9 (98.85%) 52 votes
Chia sẻ

Tiểu đường thai kỳ

Tiểu đường thai kỳ là gì? Những ảnh hưởng tới thai nhi nếu bị tiểu đường thai kỳ như thế nào?

1. Bệnh tiểu đường thai kỳ là gì?

Tiểu đường thai kỳ là trước khi mang thai người phụ nữ chưa hề được chẩn đoán mắc tiểu đường, nhưng trong khi mang thai lượng đường huyết tăng cao. Điều này nghĩa là sau khi mang thai, nếu thai phụ có các dấu hiệu của tăng đường huyết thì sẽ được chẩn đoán là mắc bệnh.

Ngoài ra, một trường hợp khác nữa là thai phụ được chẩn đoán mắc tiểu đường từ trước khi mang thai thì được gọi là “người bị tiểu đường kết hợp mang thai “, 2 loại này khác nhau nên mọi người cần phân biệt rõ để không bị nhầm lẫn. Ngoài ra cũng cần dựa trên thể trạng mẹ và tình trạng bé để có thể đưa ra những đánh giá chính xác nhất, chính vì thế người ta cũng đã thiết lập hệ thống tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn so với tiểu đường thông thường.

Tiểu đường thai kỳ là gì 1
Bệnh tiểu đường thai kỳ ở phụ nữ mang thai gây mệt mỏi

2. Nguyên nhân của tiểu đường thai kỳ – Tại sao lượng đường huyết lại dễ tăng trong khi mang thai?

Bình thường sau khi ăn uống, thức ăn sẽ được tiêu hóa, hấp thu, chuyển thành đường đi vào trong máu. Thế nhưng đường này sẽ ở trong máu mà chưa thể chuyển thành năng lượng giúp cơ thể hoạt động được, vì thế tuyến tụy sẽ tiết ra một loại hormone tên là insulin đi khắp cơ thể có nhiệm vụ chuyển hóa đường thành năng lượng.

Thế nhưng khi mang thai, một loại hormone được tiết ra từ nhau thai làm giảm khả năng tiết insulin (kháng insulin), vì thế mà lượng đường trong máu dễ tăng lên hơn.

Ở phụ nữ mang thai bình thường, có thể điều chỉnh việc tiết ra nhiều insulin từ tuyến tụy để không làm tăng lượng đường trong máu, nhưng nếu thai phụ có thể trạng insulin tiết ra ít hoặc tính kháng insulin mạnh, lượng đường trong máu sẽ tăng cao.

Tiểu đường thai kỳ là gì 2
Cơ thể mẹ bị tiểu đường không tiết đủ lượng Insulin đủ để chuyển hóa đường

3. Các triệu chứng của tiểu đường thai kỳ – Những ảnh hưởng tới mẹ và bé

Triệu chứng

Thực tế bệnh không có triệu chứng cơ năng điển hình mà có thể tự nhận biết được. Hơn nữa các triệu chứng sẽ biến đổi tùy theo cơ thể người mẹ lúc mang thai, kể cả những triệu chứng như đi tiểu nhiều cũng khó có thể nhận biết. Chính vì vậy để chính xác và an toàn cho cả mẹ và bé, hãy đi xét nghiệm máu và nước tiểu càng sớm càng tốt.

Biến chứng

Điều đáng sợ đối với tiểu đường thai kỳ là các biến chứng có thể xảy ra với cả mẹ và bé. Vì cơ thể mẹ và bé kết nối với nhau, khi đường huyết của mẹ cao thì glucose trong máu cũng sẽ được truyền qua cho bé bằng nhau thai. Bản thân bé sẽ tự tiết insulin để giảm lượng glucose này xuống, nhưng insulin cũng là một hormone tăng trưởng và nếu insulin quá nhiều sẽ làm cho bé bị tăng trưởng quá mức, dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm. Sau đây là 1 vài biến chứng có thể xảy ra ở mẹ và bé:

– Biến chứng ở mẹ

+ Sinh non

+ Hội chứng tăng huyết áp ở thai phụ

+ Quá nhiều nước ối

+ Nhiễm trùng đường tiết niệu

– Biến chứng ở thai nhi

+ Thai phát triển to quá mức ( thai khổng lồ )

+ Có những dị tật bẩm sinh

– Những tác động lên trẻ sơ sinh

+ Khó thở

+ Hạ đường huyết

Tuy nhiên tiểu đường thai kỳ không giống với mang thai khi bị tiểu đường, vì tiểu đường thai kỳ có thể dễ kiểm soát lượng đường huyết một cách tương đối, nếu có thể kiểm soát glucose trong máu phù hợp thì các mẹ đã có thể phòng tránh được các biến chứng nguy hiểm nêu trên.

Tiểu đường thai kỳ là gì 3
Mẹ bầu tiểu đường thai kỳ bị biến chứng dư nước ối

4. Những người có nguy cơ mắc tiểu đường thai kỳ

Những bà mẹ có một hoặc nhiều yếu tố sau thì khả năng mắc tiểu đường thai kỳ cũng sẽ cao hơn, cho nên hãy chú ý đi khám sớm để dễ dàng kiểm soát, điều trị nhé.

+ Trong gia đình ( đặc biệt là ông bà, bố mẹ ) có người mắc tiểu đường

+ Mang thai khi 35 tuổi trở lên

+ Béo phì

+ Xét nghiệm đường trong nước tiểu dương tính

+ Đã sinh con dị dạng hoặc to quá mức

+ Đã từng sinh non hoặc bị sảy thai

Tiểu đường thai kỳ là gì 4
Những người béo phì rất dễ bị tiểu đường thai kỳ khi mang thai

5. Xét nghiệm và chẩn đoán bệnh tiểu đường thai kỳ

Nếu thai phụ bị tiểu đường thai kỳ không kiểm soát tốt đường huyết khi mang thai, bệnh tiến triển có thể gây ra nhiều biến chứng cho cả mẹ và thai nhi. Mặt khác, nếu thai phụ được chẩn đoán và điều trị thích hợp, tiểu đường thai kỳ sẽ không phải là một căn bệnh đáng sợ.

Để có thể chẩn đoán và điều trị bệnh sớm, ở giai đoạn đầu thai kỳ (lần khám đầu tiên hoặc trước sau 10 tuần mang thai) và giữa thai kỳ (mang thai 24-28 tuần), thai phụ nên được xét nghiệm sàng lọc đường huyết và nếu có kết quả dương tính, thực hiện xét nghiệm dung nạp glucose 75g (OGTT) .

Xét nghiệm dung nạp glucose 75g là xét nghiệm cho thai phụ trong trạng thái đói uống 75g glucose hòa tan trong nước, sau đó lấy mẫu máu và đo đường huyết.

+ Đường huyết lúc đói (trước khi uống glucose) ≥92 mg/dl

+ Giá trị 1 giờ (1 giờ sau khi uống glucose) ≥180 mg/dl

+ Giá trị 2 giờ (2 giờ sau khi uống glucose) ≥153 mg/dl

Nếu thai phụ có các giá trị trùng với 1 trong 3 mục trên sẽ được chẩn đoán bị bệnh tiểu đường thai kỳ.

Tiểu đường thai kỳ
Tiểu đường thai kỳ

6. Điều trị tiểu đường thai kỳ – Không sử dụng thuốc uống

Điều trị tiểu đường thai kỳ chủ yếu sẽ là phương pháp ăn uống. Cụ thể phương pháp ăn uống sẽ thay đổi tùy thuộc vào số tuần thai, thể trạng mẹ và bé để có thể điều chỉnh phù hợp. Khi mang thai, lượng năng lượng cần thiết nhiều hơn khi không mang thai, và cũng được chia ra theo tuần tuổi của thai nhi. Ngoài ra để tránh lượng đường trong máu bị tăng một cách quá đột ngột thì các sản phụ cũng được khuyến khích chia một ngày ra 5-6 bữa ăn.

Nếu đã thực hiện các phương pháp ăn uống cụ thể được đưa ra nhưng đường huyết vẫn ở mức cao thì cần phải sử dụng liệu pháp tiêm insulin.

7. Có phải tiểu đường thai kỳ sẽ khỏi sau khi sinh em bé không?

Vì sau khi sinh thì nhau thai cũng sẽ không còn, và theo đó hormone ức chế hoạt động của insulin cũng biến mất, đường huyết sẽ giảm xuống và cơ thể trở lại bình thường. Tuy nhiên, về lâu dài, theo như một báo cáo gần đây, hơn nửa số lượng những người mẹ đã từng mắc tiểu đường thai kỳ sau 20-30 năm lại bị mắc tiểu đường, chính vì vậy hãy quản lý đường huyết thật tốt nhé.

Tiểu đường tuýp 1
4.9 (98.85%) 52 votes
Chia sẻ

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không?

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không? Mặc dù không có nguyên nhân gây bệnh tiểu đường (tiểu đường tuýp 2) cụ thể, nhưng cũng có một số yếu tố nguy cơ. Một vài yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được, còn lại là do bẩm sinh.

Theo ước tính năm 2018 có khoảng 3,5 triệu người dân Việt Nam (từ 20-79 tuổi) mắc bệnh tiểu đường.

Việt Nam đứng thứ 10 trong top các quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh tiểu đường cao nhất thế giới, mỗi năm tăng đến 5,5%.

Tuy nhiên có đến 69,9% người không biết mình bị bệnh và 85% người chỉ phát hiện ra bệnh khi bị biến chứng: tim mạch, suy thận hay thần kinh…

80% bệnh nhân tiểu đường chết vì bị biến chứng tim mạch. Ngoài ra, họ là đối tượng có nguy cơ bị tai biến mạch máu não gấp 2-4 lần người bình thường. Có tới 20% người bệnh tiểu đường bị bệnh thận, gây suy thận, có thể phải chạy thận nhân tạo hay ghép thận.

Kiến thức tiểu đường đã phát triển một khảo sát tính mức nguy cơ bị bệnh dựa trên xét nghiệm nguy cơ tiểu đường loại 2. Đây là một cách đơn giản và dễ dàng để đánh giá nguy cơ bạn bị tiểu đường tuýp 2 hay tiền tiểu đường không.

1. Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không?

Căn bệnh tiểu đường có thể xảy ra ở bất cứ 1 đối tượng nào. Nhóm yếu tố nguy cơ này có thể tùy chỉnh theo loại tiểu đường, tuy nhiên có thể kể đến 1 số nhóm điển hình như sau:

– Bệnh nhân bị tăng huyết áp ( >140/90 mmHg).

– Những đối tượng lười vận động và bị béo phì.

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không?
Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không?

– Những người trưởng thành từ 40 tuổi trở lên.

– Có thành viên trong gia đình bị đái tháo đường.

– Người có tiền sử bị tiểu đường thai kỳ.

– Người bị rối loạn cholesterol và triglyceride.

– Phụ nữ bị đa nang buồng trứng.

– Người da đen, gốc Hispanic hoặc gốc Châu Á.

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không 2
Người da đen hoặc người gốc Hispanic hay gốc Châu Á thường có nguy cơ bị tiểu đường cao hơn

Nắm chính xác, đầy đủ các yếu tố nguy cơ là việc bạn nên làm. Điều này sẽ giúp bạn phòng tránh và chẩn đoán, điều trị bệnh sớm. Khi bạn điều trị kịp thời, bạn sẽ tránh được các biến chứng nguy hiểm, sống chung với bệnh một cách vui vẻ.

2. Các yếu tố di truyền nào ảnh hưởng đến nguy cơ tiểu đường?

Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra nguyên nhân chính xác của bệnh tiểu đường tuýp 1. Tiền sử trong gia đình có người bị mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 là 1 yếu tố nguy cơ.

Trường hợp cha bị bệnh tiểu đường type 1 thì con sẽ có tỷ lệ 1/17 nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 1. Nhưng nếu mẹ bị tiểu đường tuýp 1 thì tỷ lệ con bị bệnh là 1/25 (khi mẹ chưa đến 25 tuổi). Còn mẹ sinh con ở độ tuổi trên 25 thì có tỷ lệ 1/100 nguy cơ con cũng bị mắc bệnh.

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không 3
Yếu tố di truyền là 1 trong các yếu tố nguy cơ

Bố hay mẹ bị bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường ở trẻ em. Vì bệnh tiểu đường thông thường có liên quan đến lối sống, khi bố mẹ có các thói quen sống xấu thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến con cái. Vấn đề này sẽ làm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 tăng cao.

Khi 1 đứa bé có cả bố lẫn mẹ bị bệnh tiểu đường tuýp 2 sẽ có 1/2 nguy cơ mắc bệnh. Trẻ em có bố hay mẹ bị bệnh tiểu đường tuýp 2 chẩn đoán trước 50 tuổi có 1/7 nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.

Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ nếu có 1 thành viên trong gia đình bị bệnh tiểu đường.

3. Môi trường ảnh hưởng tới nguy cơ mắc bệnh tiểu đường

Nếu bị nhiễm vi rút A (không rõ loại) khi còn nhỏ có thể gây ra bệnh tiểu đường tuýp 1 ở 1 số người. Ngoài ra, bạn cũng có nhiều khả năng bị mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 nếu sống trong môi trường khí hậu lạnh. Do đó, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 vào mùa đông thường cao hơn vào mùa hè.

4. Thói quen sống ảnh hưởng tới nguy cơ mắc bệnh tiểu đường?

Tiểu đường tuýp 1 có thể liên quan tới chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Trẻ em không được uống sữa mẹ hay trẻ sơ sinh sớm ăn thức ăn thô có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường.

Bệnh tiểu đường tuýp 2 thường là do thói quen sống:

– Béo phì

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không 5
Béo phì là yếu tố nguy cơ bị bệnh tiểu đường

– Không vận động thể chất

– Hút thuốc

– Chế độ ăn uống không lành mạnh

Một thông tin của học viện bác sĩ gia đình Mỹ cho biết béo phì là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây ra bệnh tiểu đường tuýp 2.

5. Những bệnh làm ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường?

Nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 của bạn sẽ cao hơn nếu bạn bị 1 trong số các bệnh sau:

– Bị bệnh gai đen, bệnh trên da sẽ làm cho da trông xỉn màu hơn bình thường

– Bị huyết áp cao mức trên 140/90 mmHg

– Cholesterol cao

– Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS)

– Tiền tiểu đường hoặc lượng đường trong máu cao hơn bình thường, nhưng không phải ở cấp độ tiểu đường

– Nồng độ triglyceride từ 250 trở lên

– Phụ nữ mắc bệnh tiểu đường trong thai kỳ sinh con có trọng lượng khoảng từ 3kg6 trở lên, trẻ có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường tuýp 2.

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không 6
Người trên 45 tuổi nên kiểm tra lượng đường huyết theo định kỳ

6. Tuổi tác tác động như thế nào đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường?

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không? Bạn có khả năng mắc bệnh tiểu đường khi cao tuổi. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh của Mỹ (CDC) khuyến cáo rằng đối tượng người lớn trên 45 tuổi nên kiểm tra bệnh tiểu đường, đặc biệt cần thiết nếu bạn đang bị thừa cân.

7. Những quan niệm sai lầm ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường?

Có 1 số người cho rằng dùng vắc xin có thể gây ra bệnh tiểu đường. Nhưng trên thực tế chưa có bằng chứng khoa học nào lý giải được điều này.

8. Biến chứng lâu dài

Ở người bị bệnh tiểu đường, insulin không được dùng hiệu quả khiến lượng glucose máu trong cơ thể tăng lên đáng kể. Về lâu dài, sự rối loạn này gây ra biến chứng tức thời lẫn mãn tính, nguy hại đến sức khỏe và tính mạng người bệnh.

Lối sống thiếu lành mạnh và tâm lý chủ quan với bệnh đái tháo đường (tiểu đường) sẽ khiến bạn phải đối mặt với những biến chứng như:

– Các bệnh tim mạch: Gồm có nhồi máu cơ tim hoặc đau thắt ngực bị bệnh động mạch vành.

– Biến chứng tổn thương thần kinh: Bị đột quỵ, chân bị mất cảm giác, Chứng mất trí nhớ Alzheimer’s

– Biến chứng ở mắt: Mù lòa vĩnh viễn, bệnh cườm nước, đục thủy tinh thể.

Tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường không 7
Biến chứng về mắt ở bệnh nhân tiểu đường : mắt bị mờ đi

– Biến chứng ở thận: Suy thận cấp tính, Bệnh thận mạn, phù nề ở chân.

Hiện nay, y học Việt Nam vẫn chưa có cách điều trị bệnh tiểu đường triệt để. Chính vì vậy, bệnh nhân cần có chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý để hạn chế được tác hại của bệnh xuống mức thấp nhất. Có thể hạn chế dấu hiệu bệnh bằng thuốc, nhưng điều quan trọng là người bệnh tự ý thức được tầm quan trọng của sức khỏe và có chế độ ăn uống, tập luyện, nghỉ ngơi hợp lý.

Tiểu đường tuýp 1
4.9 (98.85%) 52 votes
Chia sẻ